Doanh nghiệp

Giá cà phê cao nhất 47 năm qua: những tháng đầu năm có thời điểm đạt hơn 5.800 USD/tấn

Ngày 06/06/2025; Hiệp hội Cà phệ – Ca cao Việt Nam đã tổ chức Đại hội nhiệm kỳ XI (2025 – 2030), bầu ra 20 thành viên trong Ban chấp hành của Hiệp hội.

Theo số liệu chính thức của Hải quan, năm 2024 cà phê Việt Nam xuất khẩu sang hơn 80 nước và vùng lãnh thổ, trong đó, cà phê Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Châu Âu là 627.202 tấn, kim ngạch 2,6 tỷ USD, chiếm thị phần 47% trong khi EU chiếm 39% trong tổng số cà phê xuất khẩu cả nước. So với năm 2023, cà phê Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Châu Âu giảm 14% về lượng nhưng tăng 41% về kim ngạch còn xuất khẩu sang EU giảm 12% về lượng nhưng tăng 45% về kim ngạch.

ICO cho biết xuất khẩu cà phê thế giới trong niên vụ 2023/2024 là 137,27 triệu bao, tăng 11,7% so với niên vụ 2022/2023 và tăng 5,4% so với niên vụ 2021/2022. Xuất khẩu cà phê nhân niên vụ 2023/2024 đạt 123,75 triệu bao, tăng 11,8% so với niên vụ 2022/23 và tăng 5,5% so với niên vụ 2021/2022. Xuất khẩu cà phê khu vực Nam Mỹ đạt 66,13 triệu bao, tăng 30,7% so với niên vụ trước. Brazil xuất khẩu 49,03 triệu bao trong niên vụ 2023/2024, Colombia xuất khẩu 11,91 triệu bao trong niên vụ 2023/2024, lần lượt tăng 13,7% và giảm 0,75%.

Từ đầu vụ cà phê 2023 đến nay, giá cà phê tăng cao liên tục gây khó khăn và rủi ro cho việc thu mua thực hiện các hợp đồng xuất khẩu. Giá cà phê đã đạt đỉnh điểm cao nhất trong hơn 47 năm qua, đặc biệt trong những tháng đầu năm 2025, giá cà phê đã có những thời điểm tăng lên mức cao kỷ lục hơn 5.800 USD/tấn (sàn London) và hơn 420 cent/lb (sàn New York). Người nông dân trồng cà phê đã có thu nhập cao trong 02 vụ cà phê gần đây. Từ tháng 05/2023 trở về trước giá cà phê chỉ ở mức ±40.000 đồng/kg. Trong năm 2024 đến nay vẫn duy trì ở mức cao ±120.000 đồng/kg.

Trong 07 tháng đầu niên vụ 2024/2025, tổng lượng xuất khẩu cà phê toàn cầu giảm 3,5% xuống còn 78,513 triệu bao so với 81,387 triệu bao cùng kỳ niên vụ trước. Tỷ trọng xuất khẩu hạt cà phê Arabica trong tổng xuất khẩu cà phê nhân trong 07 tháng đầu niên vụ, tăng lên 63,3% từ mức 59,9% cùng kỳ niên vụ 2023/2024. Từ tháng 11/2021 đến tháng 05/2025 lượng tồn kho cà phê được chứng nhận trên cả 02 sàn kỳ hạn chốt tháng luôn ở mức thấp.

Diễn biến giá cà phê thế giới trong giai đoạn từ tháng 11/2021 đến tháng 05/2025: sàn kỳ hạn New York, trung bình tháng thấp nhất là 153,55 cent/lb vào tháng 9/2023, trung bình tháng cao nhất là 388,18 cent/lb vào tháng 02/2025. Sàn kỳ hạn London: trung bình tháng thấp nhất là 1.823 USD/tấn vào tháng 11/2022, trung bình tháng cao nhất là 5.588 USD/tấn vào tháng 02/2025.

Dự báo sản lượng cà phê niên vụ 2024 – 2025 và 2025 – 2026 của Brazil và các nước sản xuất qua nhận định của các hãng và Bộ Nông nghiệp Mỹ: Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự kiến sản lượng cà phê niên vụ 2024 – 2025 của thế giới sẽ ở mức 174,9 triệu bao. Trong đó, Brazil là 66,4 triệu bao, Việt Nam là 30,1 triệu bao, Colombia là 12,4 triệu bao, Indonesia là  10,9 triệu bao.

Trong khi RaboResearch ước tính sản lượng cà phê niên vụ 2024 – 2025 của Brazil là 67,1 triệu bao. RaboResearch cũng ước tính vụ thu hoạch 2025 – 2026 của Brazil đạt 62,8 triệu bao, giảm 6,4% so với niên vụ 2024 – 2025. Sản lượng cà phê arabica dự kiến ở mức 38,1 triệu bao, giảm 13,6% so với niên vụ 2024 – 2025. Còn sản lượng cà phê robusta ước tính đạt mức kỷ lục 24,7 triệu bao, tăng 7,3% so với niên vụ 2024 – 2025. Thời tiết khô hạn năm 2024 ảnh hưởng đến sản lượng arabica nhưng năng suất robusta vẫn cao mặc dù triển vọng bi quan đối với bang Rondônia – một bang thuộc Brazil, nằm ở phần lãnh thổ phía tây Bắc. Bộ Nông nghiệp Mỹ ước tính mức tiêu thụ cà phê của thế giới trong niên vụ 2024 -2025 ở mức 168,1 triệu bao.

Theo số liệu thống kê, tổng diện tích cà phê cả nước hiện nay: ±700.000 ha, đang cho thu hoạch: ±600.000 ha. Sản lượng ±1,8 triệu tấn/năm.  Diện tích trồng xen ước khoảng 187.000 ha (26,4% tổng diện tích), các cây trồng xen như: sầu riêng, bơ, hồ tiêu, chanh dây, … Hiện tượng El Nino gây khô hạn, ảnh hưởng lớn đến cà phê Robusta cả nước, giá phân bón tăng cao…dẫn đến kết quả giữa doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu và người nông dân nâng cao chất lượng vườn cây ngày càng tăng cao.

Theo số liệu chính thức của Hải quan; năm 2024 Việt Nam xuất khẩu hơn 1,345 triệu tấn cà phê, giảm 17,1% so với năm 2023 và giảm 24,3% so với năm 2022 nhưng kim ngạch đạt 5,62 tỷ USD, tăng 32,5% so với năm 2023 và tăng 38,6% so với năm 2022.

Như vậy, năm 2024 cà phê rang xay và hòa tan chiếm tỷ lệ 9,8% tổng khối lượng và 17,1% tổng kim ngạch xuất khẩu các loại cà phê của Việt Nam. Về khối lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê rang xay, cà phê hòa tan trong số liệu thống kê bao gồm cả nước uống có cà phê, cà phê hòa tan 03 trong 01, 04 trong 01 (với tỷ lệ cà phê rất thấp) như: Tập Đoàn Trung Nguyên, Vinacafé Biên Hòa, INSTANTA Việt Nam, NTT Thuận An, Công ty CP Dịch vụ Hàng Không Sân bay Tân Sơn Nhất, AZURA Hà Nội…Các doanh nghiệp cần lưu ý khi tham khảo số liệu.

Trong 08 tháng đầu niên vụ 2024 – 2025, Việt Nam xuất khẩu ±1,12 triệu tấn cà phê, kim ngạch xuất khẩu trên 6,3 tỷ USD, giảm 6,4% về khối lượng nhưng tăng 57,5% về kim ngạch so với cùng kỳ niên vụ 2023 – 2024. Xuất khẩu Robusta đạt 936.413 tấn, kim ngạch trên 4,8 tỷ USD; Arabica đạt 58.996 tấn, kim ngạch trên 371,4 triệu USD; xuất khẩu cà phê tinh chất đạt 44.475 tấn, kim ngạch trên 485,8 triệu USD (chiếm 4% tổng khối lượng và 7,7% tổng kim ngạch xuất khẩu các loại cà phê của Việt Nam).

Tổng số 10 nước dẫn đầu nhập khẩu cà phê Việt Nam năm 2024 đạt 889.617 tấn, kim ngạch 3,79 tỷ USD, chiếm tỷ lệ 66% về lượng và 67% về kim ngạch, bao gồm: Đức: 11,6%, Ý 9,3%, Tây Ban Nha 7,6%, Nhật Bản 7%, Thụy Sỹ 6,6%, Hoa kỳ 6,1%, Nga 5,2%, Hà Lan 4,8%, Philippines 4,1%, và Trung Quốc 3,9%.

Ra mắt BCH nhiệm kỳ XI

Năm 2024; Việt Nam xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc đạt 52.900 tấn cà phê trị giá 231,45 triệu USD (tỷ lệ 3,9%), Hoa Kỳ là 81.444 tấn cà phê trị giá 322,83 triệu USD (tỷ lệ 6%), Nhật Bản là 93.930 tấn cà phê trị giá 417,1 triệu USD (tỷ lệ 7%), Hàn Quốc là 37.681 tấn cà phê trị giá 142 triệu USD (tỷ lệ 2,8%).

Tổng 05 tháng đầu năm 2025; 10 thị trường dẫn đầu chiếm thị phần trên 80%, trong đó có Thụy Sỹ  19%, Đức 14,8%, Hà Lan  9,3%, Ý 7,2%, Tây Ban Nha 6,8%. Tổng 05 tháng đầu năm 2025: thị trường Trung Quốc 19.317 tấn, kim ngạch 94,1 triệu USD (tỷ lệ 2,2%), Hoa Kỳ 48.076 tấn, kim ngạch 268,57 triệu USD (tỷ lệ 5,5%), Nhật Bản 54.411 tấn, kim ngạch 304,41 triệu USD (tỷ lệ 6,2%), Hàn Quốc  18.010 tấn, kim ngạch 90,21 triệu USD (tỷ lệ 2,1%).

Trước tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt, doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động mở rộng thêm các thị trường khác để tránh thuế suất của Mỹ bên cạnh nỗ lực đàm phán của Chính phủ. Đặc biệt ở những thị trường đã có FTA, thị trường Trung Quốc.

Lê Năm
Tags

XEM THÊM

Close